Thứ Hai, 5 Tháng 10, 2026
Home Blog Page 10

PHỤ NỮ VIỆT NAM – TRUNG DŨNG – TRÍ TUỆ – HỘI NHẬP CÙNG SỰ PHÁT TRIỂN CỦA PHỤ NỮ THẾ GIỚI

0

NGÀY QUỐC TẾ PHỤ NỮ 8/3

Cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản ở Mỹ đã phát triển một cách mạnh mẽ. Nền kỹ nghệ đã thu hút nhiều phụ nữ và trẻ em vào các nhà máy, xí nghiệp. Nhưng bọn chủ tư bản trả lương họ rất rẻ mạt. Căm phẫn trước sự bất công đó, ngày 8/3/1899 nữ công nhân Mỹ đã đứng lên đấu tranh đòi tăng lương, giảm giờ làm. Phong trào bắt đầu từ công nhân ngành dệt và ngành may tại thành phố Chi-ca-gô và Nữu Ước. Mặc dù bọn tư bản ra tay đàn áp, chị em vẫn đoàn kết chặt chẽ, đấu tranh buộc chúng phải nhượng bộ. Cuộc đấu tranh của công nhân Mỹ đã cổ vũ mạnh mẽ phong trào phụ nữ lao động trên thế giới, đặc biệt phụ nữ ở nước Đức. Phong trào đấu tranh đã xuất hiện hai nữ chiến sỹ lỗi lạc đó là bà Cla-ra-zét-kin (người Đức) và bà Lô-ra Lúc-xăm-bua (người Ba Lan). Nhận thức sự mạnh mẽ và đông đảo của lực lượng lao động nữ và sự cần thiết phải có tổ chức, phải có lãnh đạo để giành thắng lợi cho phong trào phụ nữ nên năm 1907 hai bà đã phối hợp với Crup-xcai-a (vợ Lênin) vận động thành lập Ban “Thư ký phụ nữ quốc tế”. Bà Cla-ra-zét-kin được cử làm Bí thư.

Năm 1910, Đại hội phụ nữ quốc tế XHCN họp tại Cô-pen-ha-gen (thủ đô Đan Mạch) đã quyết định lấy ngày 8/3 làm ngày “Quốc tế phụ nữ” – Ngày đoàn kết đấu tranh của phụ nữ với khẩu hiệu: “Ngày làm 8 giờ”, “Việc làm ngang nhau, tiền lương ngang nhau”, “Bảo vệ bà mẹ và trẻ em”

Từ đó ngày 8/3 trở thành ngày đấu tranh chung của phụ nữ lao động toàn thế giới.

Không ai có thể phủ nhận vai trò và trách nhiệm to lớn của người phụ nữ thời hiện đại: Họ vừa là người nội trợ, vừa tham gia lao động xã hội, đóng góp sức lực của mình vào sự phát triển của đất nước, không những thế họ còn giữ một thiên chức cao cả là một người mẹ, mang nặng đẻ đau ra những đứa con và nuôi dạy chúng thành người. Phụ nữ ngày nay đang dần khẳng định mình là phái đẹp chứ không còn là phái yếu như trước kia.

Ở một số nước trên thế giới, ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3 được coi là ngày lễ chính trong năm và tổ chức rất lớn. Trong những xã hội này, đàn ông tặng hoa và quà cho những người phụ nữ trong đời của họ như mẹ, vợ, bạn gái…

Tại một số quốc gia, ngày Quốc tế Phụ nữ được kỷ niệm bằng những hoạt động liên hoan, diễu hành đòi quyền bình đẳng với nam giới, ở các vấn đề thực tiễn như mức lương, cơ hội giáo dục đào tạo và thăng tiến trong nghề nghiệp hay điều kiện an sinh xã hội, chống mại dâm và bạo lực đối với phụ nữ…

Để thể hiện sự tôn vinh những người phụ nữ, một nửa thế giới, các cơ quan, đoàn thể, gia đình thường tổ chức kỷ niệm ngày 8/3 rất trang trọng, tràn ngập hoa và những lời chúc tốt đẹp. Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3 cũng là ngày nam giới thể hiện sự chăm sóc yêu thương cho người phụ nữ mà họ yêu quý.

NGÀY QUỐC TẾ PHỤ NỮ Ở VIỆT NAM

Ở nước ta, ngày 8/3 còn là ngày kỷ niệm cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, 2 vị nữ anh hùng dân tộc đầu tiên đã đánh đuổi giặc ngoại xâm phương Bắc, giành lại chủ quyền dân tộc. Niềm tự hào và ý chí vươn lên của phụ nữ Việt Nam một phần cũng có cội nguồn từ truyền thống dân tộc độc đáo đó.

Ngày 8/3/1965, đánh giá cao cống hiến của phụ nữ miền Nam Đảng, chính phủ, Bác Hồ đã tặng bức trướng thêu 8 chữ vàng “Anh hùng – Bất khuất – Trung hậu – Đảm đang” và Nhà nước đã tặng Phụ nữ miền Nam Huân chương “Thành đồng” hạng nhất.

Hiện nay, ở Việt Nam, phụ nữ chiếm 51% lực lượng lao động và đóng vai trò chính trong công việc gia đình và nuôi dạy con cái. Trong số các đại biểu của Quốc hội Việt Nam, tổ chức quyền lực cao nhất, phụ nữ chiếm 27,3% và được Liên Hiệp Quốc đánh giá: “Phụ nữ Việt Nam tham gia hoạt động chính trị cao nhất thế giới”. Việt Nam có tỷ lệ nữ tốt nghiệp đại học là 36,24%, thạc sĩ 33,95% và tiến sĩ 25,96%.

Vào ngày 8/3 hàng năm, những người phụ nữ trong cả nước thường được tặng hoa, tặng quà hoặc tổ chức những buổi lễ kỷ niệm để thể hiện sự quan tâm, ngợi ca và bày tỏ niềm kính trọng. Một ngày bù đắp cho những vất vả của những người mẹ tảo tần cho gia đình và xã hội, những người vợ đảm đang, vun vén dựng xây tổ ấm gia đình.

KHỞI NGHĨA HAI BÀ TRƯNG – KẾT TINH LÒNG YÊU NƯỚC, SỨC MẠNH VÀ TRÍ TUỆ PHỤ NỮ VIỆT NAM

Liên Hiệp quốc đã lấy ngày 8-3 hằng năm làm ngày Quốc tế Phụ nữ và Liên Hiệp quốc đã thông qua nghị quyết các nước thành viên kỷ niệm ngày này như là ngày vì quyền bình đẳng, sự tiến bộ của phụ nữ và hòa bình cho thế giới… Ở nước ta, Ngày 8 tháng 3 còn có ý nghĩa lớn lao, là dịp để dân tộc Việt Nam kỷ niệm cuộc Khởi nghĩa Hai Bà Trưng – Hai vị nữ anh hùng dân tộc đầu tiên không chịu kiếp làm tỳ thiếp cho kẻ thù, đứng dậy phất cờ khởi nghĩa, đánh đuổi giặc ngoại xâm, giữ nguyên bờ cõi. Họ là người đại diện cho lòng yêu nước, ý chí, nghị lực, sức mạnh quật khởi của người phụ  nữ Việt Nam, sức mạnh và trí tuệ Phụ nữ Việt Nam, nét đẹp văn hoá dân tộc “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”.

Trưng Trắc, Trưng Nhị là hai chị em sinh đôi (sinh vào ngày 01-8 năm Giáp Tuất, năm 14 sau công nguyên), là con gái của Lạc tướng huyện Mê Linh (người đứng đầu bộ lạc huyện Mê Linh, thuộc tỉnh Vĩnh Phúc ngày nay) thuộc dòng dõi Hùng Vương. Mẹ là bà Man Thiện. Hai Bà mồ côi cha sớm nhưng được mẹ quan tâm nuôi dưỡng, dạy cho nghề trồng dâu, nuôi tằm, truyền lòng yêu nước, rèn luyện sức khoẻ, rèn luyện võ nghệ. Chồng bà Trưng Trắc là Thi Sách, con trai Lạc tướng huyện Chu Diên (Hà Nội ngày nay) rất đau lòng chứng kiến hành động tàn bạo của phong kiến phương Bắc.

Với chính sách cai trị hà khắc, nhà Đông Hán, đại diện là viên Thái thú Tô Định – người vô cùng bạo ngược, tham lam, vừa giết người đặc biệt là “con trai Việt”, vừa cướp của cải. Tận mắt chứng kiến hình ảnh ấy, Hai Bà Trưng cùng Thi Sách chiêu mộ nghĩa quân, chuẩn bị khởi nghĩa. Song, cuộc khởi nghĩa chưa diễn ra thì Thi Sách bị Tô Định giết chết. Thù chồng, nợ nước, bà Trưng Trắc đã cùng em gái Trưng Nhị phát động cuộc khởi nghĩa ở cửa Sông Hát (thuộc địa phận huyện Phúc Thọ, Hà Nội ngày nay) với lời thề sắt son trước giờ xuất binh:

 “Một xin rửa sạch nước thù

Hai xin dựng lại nghiệp xưa họ Hùng

Ba kẻo oan ức lòng chồng

Bốn xin vẻn vẹn sở công lênh này”.

Lời hịch thiêng liêng “Đền nợ nước, trả thù nhà” đã nhận được sự hưởng ứng của các Lạc hầu, Lạc tướng và những người yêu nước ở khắp các thị, quận cùng đông đảo lực lượng là phụ nữ tham gia khởi nghĩa.

Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng được nhân dân khắp nơi ủng hộ, tạo thành sức mạnh như vũ bão, giáng những đòn mạnh mẽ vào kẻ thù, buộc Tô Định phải bỏ chạy về nước. Dưới sự lãnh đạo của Hai Bà Trưng, nhiều cuộc khởi nghĩa địa phương được tập hợp, thống nhất thành một phong trào rộng lớn từ miền xuôi đến miền núi, bao gồm cả người Việt và các dân tộc khác trong nước Âu Lạc cũ.

Bằng ý chí, uy tín và nghị lực phi thường của hai người phụ nữ, nhân dân đã tập hợp thành lực lượng đông đảo, chỉ trong một thời gian ngắn, nghĩa quân của Hai Bà Trưng đã đánh chiếm được 65 huyện thành, thu toàn bộ lãnh thổ nước Việt, đánh bại âm mưu xâm lược của phong kiến phương Bắc. Cuộc khởi nghĩa thành công, đất nước được hoàn toàn độc lập. Trưng Trắc lên làm vua, được suy tôn là Trưng Vương, đóng đô ở Mê Linh.

Trong lịch sử thế giới, cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, chống lại quân Đông Hán phương Bắc xâm lược được xem là cuộc khởi nghĩa của những bậc nữ anh hùng đầu tiên trong lịch sử Việt Nam đứng lên tranh đấu giành độc lập cho đất nước, trước cả nữ anh hùng Jeanne d’Arc (1412-1413) của Pháp gần 14 thế kỷ. Hai Bà Trưng được vinh danh là những người phụ nữ mở nước đầu tiên của Việt Nam và xây dựng kinh đô tại Mê Linh – Phú Thọ, tiếp tục cùng nhân dân giữ vững nền độc lập, quyền tự chủ dân tộc trong gần 3 năm. Vì vậy, dân gian thường truyền nhau câu thơ:

“Đô kỳ đóng cõi Mê Linh

Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta”.

Nói về sự kiện này, trong Đại Việt sử ký toàn thư, nhà sử học Lê Văn Hưu ghi nhận công lao của Hai Bà Trưng như sau: “Trưng Trắc và Trưng Nhị là đàn bà, vậy mà hô một tiếng, các quận Cửu Chân, Nhật Nam và Hợp Phố cùng 65 thành ở Lĩnh Ngoại đều nhất tề hưởng ứng, việc dựng nước xưng vương dễ như trở bàn tay, xem thế cũng đủ biết hình thế nước Việt ta có thể dựng nghiệp bá vương được…”.

Sử gia Ngô Sĩ Liên đã viết “Họ Trưng giận thái thú nhà Hán bạo ngược, liền vung tay hô một tiếng mà khiến cho quốc thống của nước nhà có cơ hồ được khôi phục, khí khái anh hùng đâu phải chỉ khi sống thì dựng nước xưng vương, mà còn cả ở khi chết còn có thể ngăn chặn tai họa. Phàm gặp những tai ương hạn lụt, cầu đảo không việc gì là không linh ứng. Cả đến Trưng Nhị cũng vậy. Ấy là vì đàn bà mà có đức hạnh của kẻ sĩ, cho nên, khí hùng dũng ở trong khoảng trời đất chẳng vì thân đã chết mà kém đi.… đại trượng phu… nên nuôi lấy khí phách cương trực và chính đại đó…”.

Nhà Hán thấy bà xưng vương đã dấy quân đánh lấy lại các thành. Tháng 1-42, Mã Viện – tướng nhà Hán tiến đánh vào kinh đô nước Việt. Hai Bà Trưng cùng nhân dân quyết tâm đánh lại quân nhà Hán và quân Hán đánh trả quyết liệt tại vùng Lãng Bạc (Tiên Sơn – Bắc Ninh), Cẩm Khê (Ba Vì – Hà Nội). Trước sức mạnh của kẻ thù, Hai Bà đã tự gieo mình xuống Hát Giang tử tiết vào ngày 6-2-43.

Bộ Lịch sử Việt Nam của Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam (1971), khi phân tích của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, có nhận xét: “Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà là kết tinh của quá trình đấu tranh, khi âm thầm, khi công khai của nhân dân Việt Nam. Đấy là một phong trào nổi dậy của toàn dân vừa quy tụ vào cuộc khởi nghĩa ở Hát Môn do Hai Bà Trưng đề xướng, vừa tỏa rộng trên toàn miền Âu Lạc cũ. Khởi nghĩa đã thắng lợi vì đó là một phong trào có tính chất quần chúng rộng rãi chứ không phải là một hành động tự phát của một tù trưởng, một bộ lạc riêng lẻ”.

Sau khi Hai Bà Trưng mất, tưởng nhớ công ơn của các liệt nữ anh hùng đầu tiên của dân tộc, nhân dân nhiều địa phương đã lập đền, miếu thờ phụng Hai Bà và các tướng lĩnh. Đặc biệt, ở Kinh đô Mê Linh, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân luôn quan tâm việc giữ gìn, tôn tạo đền thờ Hai Bà Trưng. Hằng năm tổ chức lễ hội dâng hương tưởng nhớ công đức Hai Bà đối với dân tộc.

Năm 1980, Đền thờ Hai Bà Trưng được xếp hạng là di tích lịch sử quốc gia đặc biệt quan trọng. Đền thờ được gìn giữ, tôn tạo, mở rộng nhằm tôn vinh công lao của Hai Bà. Qua đó giáo dục lòng yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc cho thế hệ hôm nay và mai sau, đồng thời thể hiện lòng biết ơn, trách nhiệm, sự tri ân của thế hệ hôm nay với các bậc tiên hiền có công với nước.

Cuộc khởi nghĩa do Hai Bà Trưng lãnh đạo đầu công nguyên không chỉ là bằng chứng hùng hồn của tinh thần yêu nước, yêu tự do cũng như khí phách “tấn công cả trời” của tổ tiên ta thời đó mà còn định ra một loại hình chiến tranh trước đây chưa hề có mà sau này dân tộc ta kế thừa, phát huy lên tầm cao mới trong các cuộc kháng chiến chống ngoại bang mà đỉnh cao là trong hai cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược.

Tiếp nối chiến công hiển hách của Hai Bà Trưng đầu thế kỷ, phụ nữ Việt Nam luôn chắc tay liềm, vững tay súng, cùng với dân tộc Việt Nam làm nên huyền thoại trong hai cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, đưa cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Họ thật sự xứng đáng với danh hiệu mà Bác Hồ phong tặng: “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang” trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và sáng tạo trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Hai Bà Trưng là biểu tượng của ý chí hiên ngang và khí phách quật cường của dân tộc nói chung và phụ nữ nói riêng. Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng mãi mãi là tài sản vô giá về tinh thần yêu nước, ý chí bất khuất của nhân dân Việt Nam. Tiếp nối truyền thống vẻ vang của Hai Bà, trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, cùng với nhân dân cả nước, phụ nữ Việt Nam luôn tỏ rõ phẩm chất tốt đẹp: Năng động, sáng tạo, trung hậu, đảm đang, có nhiều đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

“GIỎI VIỆC NƯỚC, ĐẢM VIỆC NHÀ” – TUYÊN NGÔN CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM THỜI HIỆN ĐẠI

Từ ngàn xưa, quan niệm Nho giáo về “tam tòng tứ đức” luôn được xem là thước đo nhân phẩm và bổn phận của người phụ nữ Á Đông trong gia đình. Phụ nữ xưa phải tuân theo đạo tam tòng: tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử (Tạm dịch: Ở nhà theo cha, cưới chồng theo chồng, chồng chết theo con). Như vậy, phụ nữ xưa không được phép tự chuyên mà luôn phải “đứng sau” cha, chồng và con trai.

Bên cạnh đó, người phụ nữ truyền thống còn được đánh giá dựa vào chuẩn mực “tứ đức” là Công – Dung – Ngôn – Hạnh. “Tứ đức” đã trở thành đặc điểm thể hiện tinh thần, thể chất của người phụ nữ xưa:

  • Công: Nữ công gia chánh, tề gia nội trợ và nuôi dạy con cái.
  • Dung: Ý chỉ nhan sắc, vẻ đẹp hình thức của phụ nữ.
  • Ngôn: Cử chỉ, lời ăn tiếng nói nhỏ nhẹ, dịu dàng và lễ phép.
  • Hạnh: Ý chỉ sự đoan trang, đức hạnh, đứng đắn, cùng lòng chung thủy giữa vợ – chồng, hiếu thảo với mẹ cha…

Phụ nữ xưa trở thành người gìn giữ nề nếp gia phong, đảm đang, quán xuyến việc nhà và nuôi dạy con cái. Cũng chính vì thế, đức tính cao đẹp của người phụ nữ luôn được tôn vinh và trở thành phẩm chất đạo đức truyền thống quý báu của phụ nữ Việt Nam. Tuy nhiên, thực tế chính điều này vẫn tồn tại rất nhiều mặt tiêu cực đã trở thành “xiềng xích” gò bó người phụ nữ…

Quan niệm “tam tòng tứ đức” khiến phụ nữ xưa bị trói buộc với tư tưởng phụ nữ chỉ nên ở nhà chăm lo, quán xuyến việc nhà và nghe theo lời của người đàn ông. Phụ nữ không có cơ hội được thể hiện tài năng, trí tuệ của mình ngoài xã hội mà tất cả mọi thứ đều bị lệ thuộc vào người đàn ông. Người đàn ông được phép thực hiện các vai trò xã hội, kiếm tiền và nắm giữ tài lực của gia đình. Điều này càng củng cố thêm quyền lực và địa vị của đàn ông trong gia đình cũng như ngoài xã hội.

Những điều trên đã hình thành tư tưởng “trọng nam khinh nữ” và duy trì ở rất nhiều gia đình cho đến ngày nay. Chưa kể, đức tính hy sinh, chịu thương chịu khó của người phụ nữ lại khiến cho những xiềng xích trói buộc càng chặt và làm người phụ nữ cứ mãi trong vòng luẩn quẩn, tù túng mà không thoát ra được.

Với những mặt trái của “Công – Dung – Ngôn – Hạnh” truyền thống ngày xưa, liệu chúng ta có nên tiếp tục gìn giữ? Câu trả lời chính là gìn giữ, chọn lọc và phát triển thêm tốt đẹp. Cùng với sự phát triển của lịch sử nhân loại, sự bình đẳng giới ngày càng được quan tâm và trở thành xu thế của thời đại. Thước đo “Công – Dung – Ngôn – Hạnh” không chỉ kế thừa những đặc điểm truyền thống tốt đẹp trước mà còn phát triển, thay đổi, mở rộng hơn.

Nổi bật trong đó là sự phát triển và thay đổi của yếu tố “Công” thời hiện đại. Ngoài sự khéo léo, nữ công gia chánh trước đây, người phụ nữ được quyền tham gia làm kinh tế, chính trị và cả văn hóa. Đến nay, phụ nữ đã trở thành người đóng góp rất nhiều cho sự phát triển của nhân loại nói chung và Việt Nam nói riêng.

LỊCH SỬ VÀ Ý NGHĨA NGÀY QUỐC TẾ HẠNH PHÚC 20/3

Ngày Quốc tế hạnh phúc 20/3 được Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc Ban Ki Moon chính thức công bố tại một hội nghị của Liên Hợp Quốc về vấn đề này từ tháng 6/2012.

Đến nay, đã có 193 quốc gia thành viên, trong đó có Việt Nam cùng cam kết ủng hộ, hành động, tích cực và nỗ lực nhiều hơn để xây dựng một thế giới đại đồng, nâng cao chất lượng cuộc sống, xây dựng xã hội công bằng, phát triển bền vững, đem lại hạnh phúc cho nhân loại.

Ngày Quốc tế hạnh phúc được lấy từ ý tưởng từ Bhutan, quốc gia vốn được đánh giá là hạnh phúc nhất thế giới dựa trên các yếu tố như sức khoẻ, tinh thần, giáo dục, môi trường, chất lượng quản lý và mức sống của người dân. Liên Hợp Quốc quyết định kỷ niệm ngày này theo đề xuất của Vương quốc Bhutan, một quốc gia nhỏ bé ở khu vực Nam Á, nằm sâu trong lục địa phía Đông dãy Himalaya. Bắt đầu từ những năm 1970, nhà vua của vương quốc này đã đưa ra một cách thức mới đánh giá sự thịnh vượng của xã hội, đó là thông qua chỉ số hạnh phúc quốc gia, bên cạnh các chỉ số về kinh tế thường được dùng để đánh giá về sự giàu có vật chất. Chỉ số này được tính toán dựa trên các yếu tố về sức khỏe, tinh thần, giáo dục, môi trường, chất lượng quản lý và mức sống của người dân.

Đại diện quốc gia Bhutan cho rằng, nhu cầu về Ngày Hạnh phúc này là đối với tất cả quốc gia và con người trên toàn thế giới để có những bước vượt lên trên sự khác biệt giữa các nước và con người trên toàn thế giới, và liên kết, đoàn kết toàn nhân loại. Việc Liên Hiệp Quốc chọn ngày 20/3 là Ngày Quốc tế Hạnh phúc, còn vì đây là ngày đặc biệt trong năm, khi mặt trời nằm ngang đường xích đạo, nên trong ngày này có độ dài ngày và đêm bằng nhau – là biểu tượng cho sự cân bằng, hài hòa của vũ trụ, cũng là biểu tượng của sự cân bằng giữa âm và dương, giữa ánh sáng và bóng tối, giữa ước mơ và hiện thực… Bởi vậy, ngày 20/3 – Ngày Quốc tế Hạnh phúc cũng truyền tải thông điệp rằng: Cân bằng, hài hòa là một trong những chìa khóa để mang đến hạnh phúc.

“Đối với mỗi người khác nhau, hạnh phúc có thể mang nhiều ý nghĩa khác nhau. Tuy nhiên, chúng ta đều công nhận rằng, hạnh phúc nghĩa là làm việc để chấm dứt xung đột, nghèo đói và các điều kiện không may mắn khác và rất nhiều đồng loại của chúng ta hiện đang phải sống trong các điều kiện đó. Hạnh phúc không phải là điều phù phiếm, cũng không phải là điều gì xa xỉ. Hạnh phúc là khát khao sâu xa của mọi thành viên trong gia đình nhân loại. Hạnh phúc không nên từ chối một ai và phải là của tất cả mọi người. Khát vọng này ẩn chứa trong cam kết của Hiến chương Liên Hợp Quốc để thúc đẩy hòa bình, công bằng, nhân quyền, tiến bộ xã hội và mức sống được cải thiện”.

Việt Nam là quốc gia có hàng ngàn năm lịch sử, do đó không hề xa lạ với mục tiêu hạnh phúc. Kể từ khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay là nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam) ra đời đến nay, “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc” đã trở thành tôn chỉ quốc gia. “Độc lập là tiền đề của tự do, hạnh phúc của nhân dân. Tự do, hạnh phúc của nhân dân là thước đo giá trị, là mục tiêu của độc lập dân tộc. Hạnh phúc của nhân dân chỉ trọn vẹn khi là công dân của một nước độc lập và có đời sống vật chất ngày càng đầy đủ, có đời sống tinh thần lành mạnh. Nhân dân phải là người chủ thực thụ của đất nước và của quá trình phát triển. Mọi người đều có điều kiện để phát triển toàn diện, hướng tới chân, thiện, mỹ. Đó cũng luôn là mục tiêu, là động lực để chúng ta tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, quyết tâm xây dựng và bảo vệ một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh”.

 Việc tổ chức Ngày Quốc tế Hạnh phúc của Việt Nam là để cùng cả thế giới biểu thị mong muốn, niềm tin và quyết tâm phấn đấu vì một thế giới hòa bình, không có chiến tranh, không còn đói nghèo; một thế giới phát triển thịnh vượng và bền vững; một thế giới mà tất cả mọi người dù khác màu da, dân tộc, tôn giáo đều được hưởng trọn vẹn hạnh phúc. Để Ngày Quốc tế Hạnh phúc có ý nghĩa thiết thực và cao đẹp, chúng ta hãy cùng nhau chung sức, chung lòng, trách nhiệm, sáng tạo, quyết tâm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, đẩy mạnh công tác xóa đói, giảm nghèo, trong đó đặc biệt quan tâm tới các khu vực đồng bào dân tộc ít người còn nhiều khó khăn, tới các đối tượng chính sách dễ bị tổn thương. Hãy cùng nhau kế thừa, phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp, hiếu nghĩa của dân tộc Việt Nam. Hãy yêu thương và sẻ chia để tìm thấy cho mình và giúp những người quanh ta, trước hết là gia đình, là những người thân có nhiều giây phút hạnh phúc đích thực!

Theo: Cung văn hoá Thanh thiếu nhi Quảng Ninh

LỄ KHỞI ĐỘNG THÁNG THANH NIÊN NĂM 2022

0

Sáng ngày 01/3/2022 tại Trung tâm Văn hóa – Thể thao thành phố Cẩm Phả, Ban Thường vụ Tỉnh Đoàn Quảng Ninh tổ chức lễ khởi động Tháng Thanh niên năm 2022 với chủ đề “Tuổi trẻ Quảng Ninh xây dựng tổ chức Đoàn vững mạnh; sáng tạo tham gia chuyển đổi số toàn diện”.

Các đại biểu khởi động Tháng Thanh niên

​Tham dự chương trình có đồng chí Nguyễn Anh Tú, Tỉnh uỷ viên, Bí thư Thành uỷ, Chủ tịch HĐND thành phố Cẩm Phả; đồng chí Vũ Ngọc Tuấn – Phó Trưởng ban Dân vận Tỉnh ủy; đồng chí Hoàng Văn Hải – Ủy viên BCH Trung ương Đoàn, Bí thư Tỉnh đoàn, Chủ tịch Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam tỉnh và các đồng chí Thường trực Thành uỷ, Lãnh đạo UBND, lãnh đạo Cơ quan Khối MTTQ và các tổ chức chính trị – xã hội thành phố Cẩm Phả.

Phát biểu tại buổi lễ, đồng chí Hoàng Văn Hải – Ủy viên BCH Trung ương Đoàn, Bí thư Tỉnh đoàn, Chủ tịch Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam tỉnh nhấn mạnh, trong Tháng Thanh niên, các cấp bộ Đoàn trong toàn tỉnh cần: “Tập trung chỉ đạo tổ chức thành công Đại hội Đoàn cấp cơ sở để chuẩn bị tốt cho Đại hội Đoàn cấp huyện, hướng tới Đại hội Đoàn toàn tỉnh, toàn quốc lần thứ XII, nhiệm kỳ 2022-2027; phát huy tính sáng tạo, tích cực tổ chức các hoạt động liên quan đến chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin để phát huy vai trò sáng tạo, sự nhạy bén của đoàn viên, thanh niên trong tiếp cận với tiến bộ khoa học kỹ thuật mới; phát huy tinh thần xung kích của đoàn viên, thanh niên trong công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cộng đồng về chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo; để tuổi trẻ Quảng Ninh thực sự là lực lượng xung kích, đi đầu trong công cuộc chuyển đổi số toàn diện của tỉnh”.

Quang cảnh lễ khởi động Tháng Thanh niên

Đồng thời, đồng chí Bí thư Tỉnh đoàn cũng đề nghị các cấp bộ Đoàn, đoàn viên thanh niên toàn tỉnh sẽ ra sức thi đua, phát huy sức trẻ, đưa ra nhiều ý tưởng hay, mô hình, cách làm mới, vận dụng công nghệ để triển khai các hoạt động phù hợp trong điều kiện thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch bệnh COVID-19.

Tại chương trình, Ban Thường vụ Tỉnh đoàn trao tặng 5 góc học tập “Cùng em hướng tới tương lai” cho 5 em học sinh có hoàn cảnh khó khăn; đồng thời trao tặng 15 thùng nước sát khuẩn trị giá 25.000.000 đồng cho đoàn viên thanh niên thành phố Cẩm Phả phục vụ công tác phòng, chống dịch bệnh COVID-19.

Ban Thường vụ Tỉnh đoàn trao tặng 5 góc học tập “Cùng em hướng tới tương lai” cho 5 em học sinh có hoàn cảnh khó khăn tại TP. Cẩm Phả

Ngay sau Lễ khởi động, đồng loạt các hoạt động hưởng ứng đã được tổ chức trong sáng 01/3/2022 bao gồm: Hiến máu tình nguyện thu được 76 đơn vị máu, dọn dẹp vệ sinh môi trường, vẽ tranh tường tạo cảnh quan đô thị, gắn biển công trình thanh niên chào mừng Đại hội đại biểu Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tỉnh Quảng Ninh và toàn quốc lần thứ XII, nhiệm kỳ 2022-2027 và thăm mô hình kinh tế thanh niên.

Một số hình ảnh tại chương trình:

Theo: Ban Phong trào Tỉnh đoàn Quảng Ninh

KỶ NIỆM 63 NĂM NGÀY TRUYỀN THỐNG BỘ ĐỘI BIÊN PHÒNG VÀ 33 NĂM NGÀY BIÊN PHÒNG TOÀN DÂN

0

Bộ đội Biên phòng Việt Nam là một thành phần của Quân đội nhân dân Việt Nam, là lực lượng chuyên trách quản lý, bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh, trật tự biên giới quốc gia trên đất liền, các hải đảo, vùng biển và tại các cửa khẩu theo phạm vi nhiệm vụ do pháp luật quy định và là một lực lượng thành viên trong khu vực phòng thủ tỉnh, huyện biên giới của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Bộ đội Biên phòng có nhiệm vụ chủ trì phối hợp với các ngành, lực lượng hữu quan trên địa bàn và chính quyền địa phương trong quản lý, bảo vệ đường biên quốc gia, mốc giới; duy trì thực hiện các hiệp định, quy chế biên giới và pháp luật về biên giới; phát hiện và đấu tranh với các hoạt động vi phạm và chống phá của các loại tội phạm, giữ vững chủ quyền, an ninh, trật tự ở khu vực biên giới; thực hiện nhiệm vụ đối ngoại biên phòng, quan hệ với các cơ quan hữu quan các nước láng giềng để giải quyết các vấn đề về quan hệ biên giới nhằm xây dựng biên giới hoà bình, hữu nghị, góp phần tạo môi trường ổn định, phát triển và phục vụ đắc lực cho chủ trương mở rộng hợp tác quốc tế.

Lịch sử hình thành:

Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, ngày 20 tháng 7 năm 1954 Hiệp định Giơnevơ được ký kết chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương; các nước tham gia Hội nghị tuyên bố tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia. Mỹ là nước trực tiếp giúp Pháp trong cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương và là thành viên của Hội nghị Giơnevơ nhưng lại trắng trợn tuyên bố: “Mỹ không bị nội dung Hiệp định này ràng buộc”; từ đó, Mỹ ráo riết hất cẳng Pháp ra khỏi Đông Dương để thống trị miền Nam nước ta bằng chủ nghĩa thực dân mới; sử dụng bọn tay sai phản động trong nước nổi phỉ, xưng vua, gây bạo loạn ở khu vực biên giới Việt Nam – Trung Quốc, Việt Nam – Lào, cưỡng ép đồng bào công giáo ở phía Bắc di cư vào Nam; cài cắm gián điệp, biệt kích ra miền Bắc; thực hiện âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta, ngăn chặn sự phát triển của chủ nghĩa xã hội, đẩy lùi phong trào giải phóng dân tộc ở châu Á và trên thế giới, uy hiếp các nước xã hội chủ nghĩa và phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới.

Trước tình hình đó, Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá đúng bản chất xâm lược của đế quốc Mỹ: “Mỹ không những là kè thù của nhân dân thế giới, mà Mỹ đang biến thành kẻ thù chính, kẻ thù trực tiếp của nhân dân Việt – Miên – Lào, đồng thời chủ trương tập trung chống Mỹ cứu nước. Do đó, ngay sau thắng lợi của Chiến dịch Biên giới 1950, Trung ương Đảng và Bác Hồ đã quyết định thành lập 3 lực lượng trực thuộc Bộ Quốc phòng và Bộ Công an làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới đất liền, bờ biển, giới tuyến và các mục tiêu quan trọng ở nội địa:

– Công an Biên phòng thuộc Bộ Công an, thành lập theo sắc lệnh số 141/SL, ngày 16/02/1953 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký, bố trí thành các đồn biên phòng dọc biên giới, trực thuộc Ty Công an các tỉnh có biên giới.

– Cảnh sát Vũ trang thuộc Bộ Công an được thành lập theo Nghị định số 982/TTg, ngày 28/7/1956 của Chính phủ, làm nhiệm vụ bảo vệ các trại giam, tham gia tiễu phỉ, trừ gian.

– Cùng với hai lực lượng trên còn có các đơn vị quân đội thuộc Bộ Quốc phòng làm nhiệm vụ bảo vệ (gọi là Bộ đội Bảo vệ), gồm: Trung đoàn Tây Bắc bảo vệ biên giới Việt Nam – Lào, Đại đoàn 350 (Sư đoàn 350) làm nhiệm vụ bảo vệ các cơ quan Trung ương, bảo vệ các mục tiêu chính trị, kinh tế, quân sự quan trọng ở miền Bắc và Tiểu đoàn 25 (sau này là Tiểu đoàn 41) làm nhiệm vụ bảo vệ giới tuyến quân sự tạm thời.

Để tăng cường công tác quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biên giới, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới, cần có một lực lượng vũ trang thống nhất, chuyên trách, vững mạnh về chính trị, chặt chẽ về tổ chức; nắm vững đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; hiểu biết sâu về pháp luật, có năng lực quản lý, bảo vệ biên giới, giới tuyến, nội địa bằng các biện pháp nghiệp vụ chuyên sâu và khả năng chiến đấu vũ trang giỏi.

Ngày 19 tháng 11 năm 1958, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra nghị quyết số 58/NQ-TW “về việc thành lập lưc lượng Cảnh vệ nội địa và Biên phòng”, quyết định thống nhất các đơn vị bộ đội quốc phòng đang làm công tác bảo vệ nội địa, bảo vệ biên giới, bờ biển, giới tuyến và các lực lượng vũ trang khác chuyên trách công tác bảo vệ nội địa và biên phòng, giao cho ngành công an trực tiếp chỉ đạo, lấy tên là Lực lượng Cảnh vệ. Lực lượng Cảnh vệ gồm: Cảnh vệ Biên phòng và Cảnh vệ Nội địa.

Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị, ngày 03 tháng 03 năm 1959, Thủ tướng Phạm Văn Đồng ra Quyết định số 100 – TTg về việc thành lập một lực lượng vũ trang chuyên trách công tác biên phòng và bảo vệ nội địa, lấy tên là Công an nhân dân Vũ trang, đặt dưới sự lãnh đạo của Bộ Công an. Ngày này được lấy làm ngày thành lập Bộ đội Biên phòng.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng thăm địa đạo Vĩnh Mốc năm 1973

Các chiến sỹ an ninh T4 đào hầm trú ẩn phục vụ bbaor vệ Lãnh đạo TW cục

 

19h, ngày 28 tháng 3 năm 1959 lễ thành lập lực lượng được tổ chức trang trọng tại Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến dự và huấn thị cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân vũ trang:

“Đoàn kết, cảnh giác
Liêm chính, kiệm cần
Hoàn thành nhiệm vụ
Khắc phục khó khăn
Dũng cảm trước địch
Vì nước quên thân
Trung thành với Đảng
Tận tụy với dân”

Bác Hồ tiếp và nói chuyện thân mật với các chiến sỹ an ninh vũ trang miền Nam ra thăm miền Bắc

Thiếu tướng Phan Trọng Tuệ, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Công an làm Tư lệnh, kiêm Chính ủy đầu tiên của lực lượng. Từ đó, ngày 03 tháng 03 năm 1959 chính thức trở thành Ngày truyền thống của lực lượng Công an nhân dân vũ trang và Bộ đội biên phòng ngày nay.

Các đại biểu dự lễ kỷ niệm 10 năm ngày thành lập lực lương Công an nhân dân vũ trang (03/03/1969)

Đến cuối năm 1979 Công an nhân dân vũ trang đổi tên là Bộ đội Biên phòng và chuyển về trực thuộc Bộ Quốc phòng.

Năm 1988, Bộ đội Biên phòng lại chuyển sang trực thuộc Bộ Nội vụ cho đến cuối năm 1995 thì lại chuyển về Bộ Quốc phòng.

  • Ngày truyền thống: Ngày 03 tháng 03 năm 1959, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 100-TTg về việc thành lập một lực lượng vũ trang chuyên trách công tác biên phòng và bảo vệ nội địa, lấy tên là Công an nhân dân Vũ trang. Từ năm 1989, ngày này được lấy làm Ngày Biên phòng toàn dân.

Theo: wikipedia và Biên phòng Việt Nam

NHỮNG VIỆC CẦN LÀM TẠI NHÀ ĐỂ PHÒNG CHỐNG COVID-19

0

Hiện nay, dịch bệnh Covid-19 đang lây lan rất nhanh, diễn biến phức tạp và khó lường.

Các bậc phụ huynh và các bạn nhỏ hãy cùng tìm hiểu các biện pháp phòng chống dịch bệnh qua clip sau nhé:

SỔ TAY CHĂM SÓC TRẺ MẮC COVID-19 TẠI NHÀ

0

Trong những ngày sau tết nguyên đán, các ca nhiễm Covid-19 tăng cao trên cả nước, đặc biệt tỷ lệ trẻ em F0 dưới 12 tuổi tăng cao, đây là đối tượng chưa được tiêm vacine phòng virus SARS-COVI2.

Bệnh viện Nhi trung ương đã phát hành cuốn sổ tay chăm sóc trẻ mắc Covid-19 tại nhà, xin được giới thiệu đến các bậc Phụ huynh.

 

Theo: Bệnh viện nhi Trung ương

TUYỂN SINH CÁC LỚP NĂNG KHIẾU KHOÁ 1/2022

0
𝐓𝐮𝐲𝐞̂̉𝐧 𝐬𝐢𝐧𝐡 𝐜𝐚́𝐜 𝐥𝐨̛́𝐩 𝐧𝐚̆𝐧𝐠 𝐤𝐡𝐢𝐞̂́𝐮 𝐊𝐡𝐨𝐚́ 𝟎𝟏/𝟐𝟎𝟐𝟐.
🤸🏻‍♀️⛹🏻‍♀️⛹️‍♂️🤼‍♀️🎨🎹🎸
💒
Rất nhiều các bộ môn năng khiếu – nghệ thuật mà Cung văn hoá thanh thiếu nhi tỉnh Quảng Ninh mang đến cho các con trong năm học mới.
Với môi trường giáo dục tốt, đội ngũ giáo viên chuyên nghiệp, có nhiều kinh nghiệm. Không gian học tập khang trang, tiện nghi…
Kính mời các bậc phụ huynh đến đăng ký khoá học cho con.
——————————————————–
🏆NƠI ƯƠM MẦM TÀI NĂNG 🏆
——————————————
🏠Cung văn hoá thanh thiếu nhi tỉnh Quảng Ninh.
🎯Số 176 Lê Thánh Tông – Phường Bạch Đằng – TP Hạ Long – Tỉnh Quảng Ninh.
☎️02033.625.510 – 0393.020.668 (Cô Trang).
🎀🎀🎀🎀🎀

Nhạc cụ dân tộc – gìn giữ giá trị văn hóa xưa và nay

0

Trong chặng đường lịch sử dài của đất nước, nhạc cụ dân tộc dù không hiện hình nhưng lại có những ý nghĩa to lớn về các giá trị tinh thần.

Nhạc cụ dân tộc xuất phát từ cuộc sống con người. Các nhạc cụ đầu tiên đều rất thô sơ và là những vật gắn với cuộc sống bình thường như tre nứa,.. Đôi khi, ta có thể thấy sự tương đồng của các nhạc cụ dân tộc với các vật dụng hàng ngày. Và với những kinh nghiệm thực tiễn, con người làm ra các sản phẩm đầu tiên. Bắt nguồn từ trong cuộc sống con người, ra đời như một công cụ giải trí, nhạc cụ dân tộc không có gì là lạ khi giữ vững được sự phát triển đến thời điểm hiện tại.

Nhạc cụ làm từ dừa được công nhận là bộ nhạc cụ dân tộc bằng gỗ dừa đầu tiên tại Việt Nam (nguồn: internet)

Theo một vài tài liệu nghiên cứu, tại Việt Nam hiện nay có tới hàng trăm loại nhạc cụ khác nhau. Mỗi loại nhạc cụ đều mang một đặc trưng vùng miền. Có loại nhạc cụ đơn thuần là sự sáng tạo của con người vùng đất đó. Tuy nhiên, một số nhạc cụ khác lại là sự du nhập của khu vực khác. Nhờ vào sự sáng tạo, cải biến, nó dần trở thành nhạc cụ của vùng miền đó.

Nhạc cụ dân tộc có ý nghĩa về mặt âm nhạc với người Việt. Thời xưa, nhạc cụ dân tộc là một hình thức giải trí của người Việt. Chúng ta có thể thấy rõ ràng ý nghĩa này thông qua những buổi biểu diễn nhỏ tại đình làng, sân nhà hay thậm chí ngoài vườn trong những bộ phim tài liệu. Ở khu vực phía Nam như Bạc Liêu, ta có thể dễ dàng bắt gặp được bức ảnh hay tranh vẽ người nông dân kéo đờn hát. Đó chính là những tập tục từ xa xưa.

Các nhạc cụ dân tộc xuất hiện trong những bức ảnh xưa (nguồn: internet)

Tới thời đại ngày nay, tại những sân khấu lớn, nhạc cụ dân tộc cũng thường được xuất hiện. Hàng năm, để bảo tồn và phát huy những giá trị dân tộc, các loại nhạc khí cũng thường được đem ra biểu diễn. Không những vậy, nhạc cụ dân tộc cũng được mang ra quảng bá tại nước ngoài.

Nhạc cụ dân tộc mang các giá trị tinh thần. Như một “đồ cổ” có giá trị lịch sử, nhạc khí dân tộc tồn tại suốt một thời gian dài. Nó gắn bó lâu dài với đời sống con người. Nhờ sự gắn bó đó, vật và người có thêm mối liên kết không thể tách rời với nhau. Một người nghệ sĩ không bao giờ bỏ cây đàn đã đi theo mình từ lúc bắt đầu, nếu bắt buộc từ bỏ thì họ cũng sẽ luôn nhớ tới. Đó chính là những tình cảm con người thường có với nhạc khí của mình.

Nhạc khí dân tộc gắn bó với con người về cả đời sống kinh tế lẫn tâm hồn (nguồn: internet)

Nhạc cụ dân tộc cũng là một phần trong tinh thần dân tộc. Tinh thần dân tộc thuộc về dân tộc, là sự đồng lòng, chung chí hướng của con người. Trong công cuộc thể hiện tinh thần dân tộc, nhạc khí dân tộc làm nhiệm vụ gắn kết con người. Bản thân nó là sự đồng sáng tạo, đồng hiện của cả một cộng đồng khu vực.

Ngày nay, khi nhạc cũ đang mất đi chỗ đứng của mình thì nhiệm vụ của thế hệ trẻ là giữ lại nó. Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa là nhiệm vụ của mỗi con người, không phải của riêng một người. Chỉ cần một chút sự quan tâm thì cũng đã góp một phần trong công cuộc giữ vững các giá trị dân tộc.
(Theo: vanhoavietnam.vn)

Cung văn hoá Thanh thiếu nhi tỉnh Quảng Ninh là nơi đào tạo những môn năng khiếu, kỹ năng vượt trội trong đó có nhạc cụ dân tộc. Trong nhiều năm qua, những mầm non nghệ thuật đã được ươm mầm và vươn lớn từ môi trường này, xin giới thiệu với bạn đọc phóng sự chương trình nghệ thuật: Cung đàn mùa xuân do QTV kết hợp với cung Văn hoá Thanh thiếu nhi Quảng Ninh thực hiện.

Hoà tấu nhạc cụ dân tộc: Đoản xuân ca

Thể hiện: lớp chuyên nhạc cụ dân tộc – Cung văn hoá Thanh thiếu nhi Quảng Ninh

Các bước xử lý khi phát hiện học sinh mắc Covid-19 tại cơ sở giáo dục

0

✅ Sổ tay bảo đảm an toàn phòng, chống dịch Covid-19 trong trường học (sửa đổi, bổ sung), do Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt ngày 27/1/2022, hướng dẫn xử lý trường hợp học sinh phát hiện mắc Covid-19 tại cơ sở giáo dục bao gồm 4 bước tại Infographic dưới đây như sau.
🌍 Nguồn Nhandan.vn
Các bước xử lý khi phát hiện học sinh nhiễm Covid-19_______________________
Theo Fanpage: Tuổi trẻ Quảng Ninh: https://www.facebook.com/suctreQuangNinh
🌀Website: https://tinhdoanquangninh.vn/

TP HẠ LONG MỞ LẠI TOÀN BỘ CÁC HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DỊCH VỤ TỪ 12h NGÀY 16/2/2022

0

Thống nhất chủ trương từ 12h00’, ngày 16/02/2022, cho phép mở lại toàn bộ các hoạt động kinh doanh dịch vụ karaoke, vũ trường, massage, bar, pub, club, dịch vụ Internet, trò chơi điện tử,… trên địa bàn đối với các cơ sở dịch vụ có đủ các biện pháp bảo đảm công tác phòng, chống dịch bệnh Covid-19:https://baoquangninh.com.vn/tu-12h00-ngay-16-2-mo-lai-toan-bo-cac-hoat-dong-kinh-doanh-dich-vu-karaoke-vu-truong-massage-bar-pub-3174248.html

Ai là F0, F1 theo hướng dẫn mới của Bộ Y tế?

0

Bộ Y tế vừa có hướng dẫn mới về xác định các trường hợp mắc Covid-19 (F0), người tiếp xúc gần (F1).

Ngày 29/12/2021, Bộ Y tế có Công văn 11042/BYT-DP về điều chỉnh định nghĩa ca bệnh COVID-19.

Hướng dẫn xác định F0, F1 theo hướng dẫn mới của Bộ Y tế

Hướng dẫn xác định F0, F1 theo hướng dẫn mới của Bộ Y tế (Ảnh minh họa)

1. Các trường hợp xác định là F0

– Là người có xét nghiệm dương tính với vi rút SARS-CoV-2 bằng phương pháp xét nghiệm phát hiện vật liệu di truyền của vi rút (PCR).

– Là người tiếp xúc gần (F1) và có kết quả test nhanh kháng nguyên dương tính với vi rút SARS-CoV-2.

– Là người có biểu hiện lâm sàng nghi mắc Covid-19 và có kết quả test nhanh kháng nguyên dương tính với vi rút SARS-CoV-2, có yếu tố dịch tễ (không bao gồm F1).

– Là người có kết quả test nhanh dương tính 02 lần liên tiếp (xét nghiệm lần 2 trong vòng 8 giờ kể từ khi có kết quả xét nghiệm lần 1) và có yếu tố dịch tễ (không bao gồm F1).

Sinh phẩm xét nghiệm nhanh kháng nguyên với vi rút SARS-CoV-2 phải thuộc danh mục được Bộ Y tế cấp phép. Xét nghiệm nhanh kháng nguyên do nhân viên y tế thực hiện hoặc người nghi nhiễm thực hiện dưới sự giám sát của nhân viên y tế bằng hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp qua phương tiện từ xa.

Trước đó, tại Quyết định số 3638/QĐ-BYT ngày 30/7/2021, F0 được xác định là người có xét nghiệm dương tính với vi rút SARS-CoV-2 qua phát hiện vật liệu di truyền của vi rút được thực hiện bởi các cơ sở xét nghiệm do Bộ Y tế cho phép khẳng định.

2. Các trường hợp xác định nghi nhiễm Covid-19

– Là F1, có ít nhất 02 trong số các biểu hiện lâm sàn như sốt; ho; đau họng; chảy nước mũi; nghẹt mũi; đau người; mệt mỏi; ớn lạnh; giảm hoặc mất vị giác, khứu giác; đau, nhức đầu; tiêu chảy; khó thở; viêm đường hô hấp.

– Là người có yếu tố dịch tễ (không bao gồm F1) và có ít nhất 02 trong số các biểu hiện lâm sàn như trên.

– Là người có kết quả test nhanh dương tính với vi rút SARS-CoV-2 (trừ các trường hợp đã xác định là F0 nêu trên).

Trong đó, người có yếu tố dịch tễ (không bao gồm F1) được xác định:

+ Có mặt trên cùng phương tiện giao thông hoặc cùng địa điểm, sự kiện, nơi làm việc, lớp học, … với F0 đang trong thời kỳ lây truyền.

+ Người ở, đến từ khu vực ổ dịch đang hoạt động.

Trước đây, ca bệnh nghi ngờ được xác định là người có ít nhất 02 trong số các biểu hiện sốt, ho, đau họng, khó thở, đau người – mệt mỏi – ớn lạnh, giảm hoặc mất vị giác hoặc khứu giác; hoặc người có kết quả xét nghiệm sàng lọc dương tính với vi rút SARS-CoV-2.

3. Các trường hợp xác định là người tiếp xúc gần (F1)

– Người có tiếp xúc cơ thể trực tiếp (bắt tay, ôm, hôn, tiếp xúc trực tiếp với da, cơ thể…) với F0 trong thời kỳ lây truyền của F0.

– Người đeo khẩu trang có tiếp xúc, giao tiếp trong 02 mét hoặc cùng một không gian hẹp, kín và tối thiểu trong thời gian 15 phút với F0 khi đang trong thời kỳ lây truyền của F0.

– Người không đeo khẩu trang có tiếp xúc, giao tiếp trong 02 mét hoặc cùng một không gian hẹp, kín với F0 khi đang trong thời kỳ lây truyền của F0.

– Người trực tiếp chăm sóc, khám, điều trị F0 khi đang trong thời kỳ lây bệnh của F0 mà không sử dụng đầy đủ phương tiện phòng hộ cá nhân.

Thời kỳ lây truyền của F0 được tính từ 2 ngày trước khi khởi phát (đối với ca bệnh xác định không có triệu chứng thì thời kỳ lây truyền được tính từ 2 ngày trước ngày được lấy mẫu có kết quả xét nghiệm dương tính) cho đến khi có kết quả xét nghiệm âm tính…

Châu Thanh

Nguồn:https://thuvienphapluat.vn/tintuc/vn/thoi-su-phap-luat/thoi-su/38888/ai-la-f0-f1-theo-huong-dan-moi-cua-bo-y-te